RỐI LOẠN GIẤC NGỦ VÀ BỆNH NỘI TIẾT CHUYỂN HÓA: PHÁT HIỆN SỚM VÀ DỰ PHÒNG


PHẦN I. TỔNG QUAN VỀ RỐI LOẠN GIẤC NGỦ

– Giấc ngủ, đặc biệt là giấc ngủ sâu, đóng vai trò thiết yếu trong việc “làm sạch não bộ” nhờ vai trò của hệ glymphatic.
– Giấc ngủ và sức khỏe – tuổi thọ có mối quan hệ rất mật thiết.
– Giấc ngủ là một quá trình sinh lý hữu ích có tác động mạnh mẽ đến điều hòa hoạt động hệ thần kinh, tim mạch – hô hấp, nội tiết – chuyển hóa, miễn dịch… thông qua các cơ chế sinh học, thần kinh và thể dịch.
– Rối loạn giấc ngủ (sleep disorders) ảnh hưởng đến chức năng các hệ cơ quan và các bệnh các hệ cơ quan có thể làm thay đổi cấu trúc vàchất lượng giấc ngủ.

PHẦN IA. TỔNG QUAN VỀ RỐI LOẠN GIẤC NGỦ: MẤT NGỦ

Mất ngủ mãn tính: Khó khởi đầu và/hoặc duy trì giấc ngủ, hoặc thức giấc quá sớm kết hợp với rối loạn chức năng ban ngày
– ICSD-3 (International Classification of Sleep Disorder)
▪ Cấp tính hoặc mãn tính
▪ BN khó khởi đầu giấc ngủ, duy trì giấc ngủ
▪ Hoặc thức giấc sớm buổi sáng tối thiểu 3 đêm / tuần
▪ Kết hợp với hậu quả ban ngày của mất ngủ
▪ Xảy ra dù cơ hội và hoàn cảnh để ngủ hoàn hảo
▪ Nếu mất ngủ kéo dài > 3 tháng: mãn tính
– DSM-5 (Diagnosis and Statistical Manual for Mental Disorders): tiêu chuẩn tương tự ICSD-3

PHẦN IB. TỔNG QUAN VỀ RỐI LOẠN GIẤC NGỦ: OSA

❖ Định nghĩa OSA
Ngưng hoàn toàn (ngưng thở – apnea) hoặc một phần (giảm thở – hypopnea) do tình trạng xẹp đường hô hấp trên (hầu – họng) khi ngủ.
❖ Sinh bệnh học OSA
Giảm oxy máu gián đoạn (intermittent hypoxia), tăng hoạt tính giao cảm và phân mảnh giấc ngủ.
❖ Hậu quả OSA
Các giai đoạn ngưng thở gây ra các stress oxít hóa cấp tính và mãn tính.

PHẦN IIA. MỐI LIÊN QUAN RLGN-RL CHUYỂN HÓA: MẤT NGỦ

Mất ngủ và Thiếu ngủ làm cho thời gian ngủ ngắn (SSD: Short Sleep Duration)
❖ SSD có mối liên quan biến chứng thần kinh – tâm thần, đột quỵ và tử vong do tim mạch.
❖ SSD gây ra nhiều rối loạn hệ cơ quan do nhiều cơ chế:
▪ Rối loạn hệ TK tự chủ và chức năng thần kinh bậc cao
▪ Rối loạn chức năng tế nào TK, nội mạc mạch máu
▪ Rối loạn điều hòa insulin – glucose & chyển hóa
▪ Rối loạn đáp ứng viêm toàn thân & hệ cơ quan
▪ Rối loạn quá trình đông máu, tưới máu não.
❖ Có mối liên quan chặt chẽ giữa thiếu ngủ với tiểu đường, béo phì và bệnh lý tim mạch.
❖ Có mối liên quan giữa mất ngủ với bất thường biểu hiện di truyền (epigenetic).

PHẦN IIB. MỐI LIÊN QUAN RLGN – RL CHUYỂN HÓA: OSA

❖ Nghiên cứu đoàn hệ về giấc ngủ “Winconsin Sleep Cohort”:
– Tăng cân trong 4 năm qua là yếu tố tiên lượng quan trọng tiến triển OSA
– Tăng cân 10% → tăng 32% AHI và 6 lần nguy cơ mắc OSA trung bình đến nặng
❖ Nghiên cứu đoàn hệ “Sleep Heart Health Study:
– Tăng cân 10 kg /5 năm → ↑ thêm AHI 15 lần/giờ x 5.2 lần ở nam và x 2.5 lần ở nữ
❖ 41% người thừa cân với BMI > 28 kg/m2 mắc OSA
❖ 78% người Béo phì cần trải qua phẫu thuật thắt dạ dày bị OSA

PHẦN IIIA. CHẨN ĐOÁN – ĐIỀU TRỊ & DỰ PHÒNG: MẤT NGỦ

– Cá thể hoá chẩn đoán
– Điều trị đặc hiệu, trị liệu đích, trị liệu cá thể hoá

PHẦN IIIB. CHẨN ĐOÁN – ĐIỀU TRỊ & DỰ PHÒNG: OSA

1. Bệnh nhân bị OSA cần phải điều trị giảm cân & VSGN
2. Điều trị tư thế ở bệnh nhân bị OSA
3. Điều trị bệnh nhân bị OSA nặng với CPAP
4. Điều trị bệnh nhân OSA bằng dụng cụ hàm miệng
5. Đặt máy kích thích dây TK XII
6. Phẫu thuật OSA: tonsillectomy, UPPP, lateral pharyngoplasty, tongue radiofrequency, turbinoplasty, epiglottectomy, bimaxillary advancement, maxilla facial surgery
7. Phẫu thuật hàm mặt – OSA
8. Điều trị nội khoa OSA

PHẦN IV. KẾT LUẬN – MẤT NGỦ & RỐI LOẠN CHUYỂN HÓA

1. Mất ngủ làm tăng nguy cơ các biến cố tim mạch, tiểu đường rối loạn chuyển hóa mỡ, xơ vữa mạch máu; mất ngủ có thể làm tăng nguy cơ bị béo phì; thuốc off-label có thể gây tăng cân (thuốc SSRI).
2. Chẩn đoán mất ngủ ở người bị bệnh nội tiết – chuyển hóa cần dựa trên các khuyến cáo chung theo ICSD3-TR; cần chẩn đoán đồng mắc mất ngủ và OSA ở người bị béo phì (COMISA).
3. Điều trị mất ngủ ở bệnh nhân bệnh nội tiết – RLCH cần dựa trên CBT-I, vệ sinh giấc ngủ, giảm cân; các liệu pháp dùng thuốc và không dùng thuốc; lưu ý các thuốc làm tăng cân.
4. Tần suất bị OSA ở người bị ĐTĐ/béo phì rất cao làm tăng nguy cơ các biến cố tim mạch, rối loạn chuyển hóa và đột quỵ. Cần phải có đồng thuận chẩn đoán & điều trị.
5. Chẩn đoán xác định OSA ở người bị RLCH là rất quan trọng để thực hiện giảm cân hiệu quả và điều trị đồng thời bằng CPAP cho những trường hợp OSA nặng.
6. Việc tầm soát OSA ở người bị RLCH bằng các câu hỏi tầm soát trước khi tiến hành đo đa ký hô hấp hoặc đa ký giấc ngủ tại các cơ sở y tế đủ điều kiện là rất cần thiết.


    ——————————————————————-
    Tác giả: GS.TSKH.BS DƯƠNG QUÝ SỸ
    Chủ tịch Hội Y học giấc ngủ Việt Nam – VSSM
    Phó Chủ tịch Hội Y học giấc ngủ châu Á – ASSM
    Nguyên Chủ tịch Liên đoàn giấc ngủ ASEAN – FSSM
    Chủ tịch Chương trình Khởi xướng toàn cầu OSA – GIFOSA
    Trưởng Bộ môn Y học giấc ngủ; Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội