9 thành tựu nổi bật của giáo dục Việt Nam trong nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng (2021–2025)
12/01/2026 10 lượt xemGS.TSKH Dương Quý Sỹ, Ủy viên Hội đồng Quốc gia Giáo dục & Phát triển Nhân lực,
Nguyên Phó trưởng Tiểu ban Giáo dục nghề nghiệp
(CLO) Những thành tựu trong nhiệm kỳ Đại hội Đảng XIII có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh triển khai Nghị quyết 71-NQ/TW, các Luật Giáo dục sửa đổi
Nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng (2021–2025) diễn ra trong bối cảnh đặc biệt khó khăn, phức tạp và nhiều biến động sâu sắc cả trong nước và trên thế giới. Đại dịch COVID-19 bùng phát tại Việt Nam vào đầu nhiệm kỳ và kéo dài đã tạo ra những gián đoạn chưa từng có đối với hoạt động kinh tế – xã hội, trong đó giáo dục là lĩnh vực chịu tác động trực tiếp, sâu rộng và kéo dài trong năm 2021.
Hàng chục triệu học sinh, sinh viên phải tạm dừng đến trường; hoạt động dạy và học chuyển sang hình thức trực tuyến trong điều kiện hạ tầng, thiết bị, năng lực công nghệ và điều kiện kinh tế – xã hội còn nhiều bất cập, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Bên cạnh tác động của đại dịch COVID-19, ngành giáo dục Việt Nam còn đứng trước những thách thức mang tính cơ cấu và dài hạn: Yêu cầu chuyển đổi số toàn diện, sự thay đổi nhanh chóng của thị trường lao động trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cạnh tranh nhân lực toàn cầu ngày càng gay gắt, cũng như đòi hỏi ngày càng cao của xã hội đối với chất lượng, hiệu quả và công bằng trong giáo dục.
Trong bối cảnh đó, việc vừa bảo đảm duy trì hoạt động ổn định của hệ thống giáo dục, vừa thúc đẩy đổi mới và tạo nền tảng phát triển lâu dài là nhiệm vụ đặc biệt nặng nề, đòi hỏi quyết tâm chính trị cao và sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị trong suốt Nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trên cơ sở Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, giáo dục tiếp tục được khẳng định là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt cho phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển đất nước, xây dựng xã hội học tập. Các chủ trương của Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo tinh thần của Nghị quyết 29-NQ/TW được triển khai nhất quán, xuyên suốt, tạo nền tảng chính trị vững chắc cho các cải cách trong toàn hệ thống giai đoạn 2021-2025.

Tổng Bí thư Tô Lâm và GS Dương Quý Sỹ tại Hội nghị quán triệt, triển khai các Nghị quyết Trung ương. Ảnh: NVCC
Đặc biệt, sự ra đời của Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo vào cuối nhiệm kỳ mang một ý nghĩa rất quan trọng về tư duy và chiến lược phát triển giáo dục (ban hành ngày 22/8/2025). Nghị quyết đã mở rộng cách tiếp cận giáo dục từ góc độ thuần túy ngành sang cách tiếp cận phát triển tổng thể nguồn nhân lực, gắn giáo dục với khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.
Đây là văn kiện thể hiện rõ tầm nhìn dài hạn của Đảng đối với sự nghiệp giáo dục trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu về tri thức và nhân lực, đồng thời tạo động lực quan trọng cho những cải cách và đổi mới giáo dục sâu rộng trong giai đoạn 2026-2030 và tầm nhìn đến 2045.
Phát triểnmạnh mẽ quy mô giáo dục và mở rộng cơ hội học tập cho người dân
Một trong những thành tựu quan trọng trong nhiệm kỳ 2021-2025 là quy mô của ngành giáo dục tiếp tục được mở rộng toàn diện về người học – giáo viên – cơ sở vật chất, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu học tập của người dân. Số lượng người học ở các cấp học, trình độ đào tạo tiếp tục duy trì ở mức cao, phản ánh nhu cầu học tập lớn và niềm tin của xã hội đối với hệ thống giáo dục nước nhà. Cơ hội tiếp cận giáo dục của người dân được mở rộng không chỉ về mặt số lượng mà còn về hình thức, phương thức học tập, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số và học tập suốt đời.
Bài học kinh nghiệm thực tiễn từ đại dịch COVID-19 và chủ động hội nhập quốc tế, đã giúp cho hệ thống giáo dục quốc dân từng bước hình thành các con đường học tập linh hoạt, tạo điều kiện cho người học lựa chọn lộ trình phù hợp với năng lực, điều kiện và nhu cầu cá nhân.
Giáo dục chính quy được hỗ trợ bởi giáo dục thường xuyên, đào tạo từ xa, đào tạo trực tuyến, qua đó mở rộng khả năng tiếp cận giáo dục cho người lao động, người trưởng thành và các nhóm yếu thế trong xã hội.
Nâng cao chất lượng phổ cập giáo dụctừ mầm non đến trung học cơ sở và đổi mới giáo dục phổ thông:
Trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, công tác phổ cập giáo dục tiếp tục là điểm sáng và cũng là thành tựu quan trọng của hệ thống giáo dục Việt Nam. Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi được duy trì và nâng cao chất lượng, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển toàn diện của trẻ. Phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở được giữ vững trên phạm vi cả nước, góp phần quan trọng trong việc nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực và bảo đảm công bằng xã hội.
Việc duy trì phổ cập trung học cơ sở trong bối cảnh dịch bệnh kéo dài là nỗ lực lớn của toàn ngành giáo dục và chính quyền các cấp. Thành tựu này không chỉ phản ánh năng lực lãnh đạo và điều hành vĩ mô xuất sắc của hệ thống giáo dục, mà còn thể hiện cam kết mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước trong việc bảo đảm quyền học tập của người dân, đặc biệt là trẻ em ở vùng khó khăn.
Việc triển khai Chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) mới 2018 trong nhiệm kỳ 2021-2025 đã tiếp tục được thực hiện theo lộ trình, đồng bộ và hiệu quả; đến cuối nhiệm kỳ, ngành giáo dục đã hoàn tất chu trình triển khai chương trình GDPT mới 2018.
Chương trình mới với định hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học đã tạo ra những chuyển biến bước đầu trong phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá; chuyển mạnh từ nền giáo dục trang bị kiến thức sang phát triển năng lực người học.
Mặc dù quá trình triển khai còn gặp không ít khó khăn, nhưng với quyết tâm chính trị cao và sự chỉ đạo quyết liệt của lãnh đạo ngành giáo dục các cấp, việc triển khai chương trình GDPT mới đã về đích một cách xuất sắc; đây là sự đổi mới mang tính chiến lược, đặt nền tảng cho đổi mới giáo dục phổ thông về dài hạn trong các nhiệm kỳ Đại hội Đảng tiếp theo về giáo dục và đào tạo.
Ngoài ra, các kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông trong nhiệm kỳ được tổ chức an toàn, nghiêm túc, từng bước đổi mới theo hướng giảm áp lực, tăng độ tin cậy và tính khách quan. Việc tổ chức kỳ thi trong điều kiện dịch bệnh phức tạp cho thấy năng lực thích ứng và điều hành linh hoạt của ngành giáo dục, đồng thời góp phần củng cố niềm tin xã hội đối với công tác quản lý nhà nước về giáo dục.
Phát triển mạnh mẽ đội ngũ nhà giáo và sự ra đời của Luật Nhà giáolà thành tựu quan trọng
Trong nhiệm kỳ 2021-2025, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục tiếp tục tăng mạnh cả về quy mô lẫn chất lượng của hơn1,6 triệu giáo viên; đóng vai trò trung tâm trong việc duy trì và nâng cao chất lượng giáo dục nước nhà.
Trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, nhiều chính sách liên quan đến đội ngũ nhà giáo được bổ sung, điều chỉnh theo hướng cải thiện điều kiện làm việc, thu hút nhân lực nhà giáo, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, động viên và khen thưởng kịp thời đội ngũ nhà giáo, tạo tâm lý ổn định và cống hiến mạnh mẽ hơn cho giáo dục nước nhà.

Nhiều chính sách liên quan đến đội ngũ nhà giáo được bổ sung. Ảnh: NB&CL
Đặc biệt, việc Quốc hội Khóa XV thông qua Luật Nhà giáo, có hiệu lực từ tháng 1/2026, là dấu mốc mang tính lịch sử đối với ngành giáo dục. Luật Nhà giáo đã xác lập một khung pháp lý đầy đủ, thống nhất cho vị trí, vai trò, quyền và nghĩa vụ của nhà giáo; đồng thời tạo cơ sở pháp lý quan trọng để xây dựng các chính sách đãi ngộ, phát triển đội ngũ nhà giáo một cách bền vững.
Đây là bước tiến lớn, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước đối với đội ngũ những người làm công tác giáo dục – lực lượng quyết định chất lượng và tương lai của nền giáo dục nước nhà.
Thống nhất trong quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp và hoàn thiện mạnh mẽ về thể chế
Một dấu ấn quan trọng trong nhiệm kỳ 2021-2025 là việc thống nhất một cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục quốc dân; trên cơ sở sắp xếp, kiện toàn chức năng quản lý giáo dục nghề nghiệp (GDNN) thông qua việc sát nhập Tổng cục GDNN vào Bộ Giáo dục & Đào tạo (tháng 3/2025).
Thành tựu này này đã góp phần khắc phục tình trạng phân tán, chồng chéo trong quản lý nhà nước về GDNN, tạo điều kiện xây dựng hệ thống giáo dục quốc dân đồng bộ, liên thông tám bậc, nâng cao hiệu quả hoạch định và thực thi chính sách.
Cùng với đó, thể chế, chính sách về giáo dục tiếp tục được hoàn thiện. Cuối nhiệm kỳ, Quốc hội đã ban hành và sửa đổi nhiều luật liên quan đến giáo dục (Luật Giáo dục, Luật GDNN, Luật Giáo dục Đại học), tạo sự đột phá và cơ sở pháp lý mới cho giai đoạn phát triển tiếp theo sau Đại hội XIV, tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế và chính sách trong giáo dục.

Trường trung học nghề tăng sức hút đối với người học, tạo bước khởi đầu vững chắc cho phát triển nguồn nhân lực
mũi nhọn. Ảnh: HNIVC
Chuyển đổi số mạnh mẽ, ứng dụng AI và xây dựng hệ sinh thái giáo dục số
Chuyển đổi số trong giáo dục là một trong những dấu ấn nổi bật của nhiệm kỳ. Việc ứng dụng nền tảng số, công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo (AI) trong quản lý giáo dục, dạy học và đánh giá đã được đẩy mạnh. Nhiều cơ sở giáo dục triển khai các mô hình dạy học trực tuyến, tích hợp thực tế ảo, mô phỏng số, kho học liệu số; đã từng bước hình thành môi trường học tập số trong hệ thống giáo dục Việt Nam.
Đặc biệt, việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục và hồ sơ học tập suốt đời của người học, từng bước kết nối với VNeID, là bước tiến quan trọng trong quản lý giáo dục hiện đại. Đây là nền tảng để hiện thực hóa mô hình học tập suốt đời, quản lý người học xuyên suốt các cấp học, trình độ đào tạo, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và chất lượng dịch vụ giáo dục.
Hội nhập quốc tế và vị thế giáo dục Việt Nam được nâng cao là một thành tựu vượt bậc
Trong nhiệm kỳ, hội nhập quốc tế trong giáo dục được đẩy mạnh trên nhiều phương diện. Việt Nam tăng cường hợp tác đào tạo, trao đổi học thuật, công nhận văn bằng, chuyển giao chương trình với các đối tác quốc tế.
Trong nhiệm kỳ 2021-2025, thi học sinh giỏi, đặc biệt ở các kỳ thi Olympic quốc tế, Việt Nam đều duy trì ở nhóm 10 quốc gia có kết quả thi tốt nhất trên toàn thế giới; thậm chí có những môn thi, thí sinh Việt Nam đứng trong nhóm 5, nhóm 3 quốc gia có kết quả thi tốt nhất trên toàn thế giới.

Việt Nam giành Huy chương Đồng tại Olympic Trí tuệ nhân tạo quốc tế (IOAI) năm 2025 do Trung Quốc đăng cai tổ chức. Ảnh: UET
Bên cạnh đó, trong giai đoạn 2021–2025, thành tích của thí sinh Việt Nam tại các kỳ thi kỹ năng nghề quốc tế đã đạt được những thành tích vượt bậc; đặc biệt tại kỳ thi Kỹ năng nghề thế giới (WorldSkills Competition), thí sinh Việt Nam đã giành nhiều huy chương đồng và bạc, chứng chỉ nghề xuất sắc; phản ánh rõ nét sự tiến bộ và năng lực cạnh tranh ngày càng cao của nguồn nhân lực kỹ năng nghề trẻ, khẳng định vị thế lao động kỹ năng Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế.
Trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, giáo dục đại học cũng có những bước phát triển nhảy vọt, nhiều trường đại học Việt Nam đã có mặt trong các nhóm xếp hạng có uy tín trên thế giới. Đã có nhiều chương trình đào tạo mới, lĩnh vực mới, đặc biệt về công nghệ cao được xây dựng và triển khai theo lộ trình, điển hình như công nghệ bán dẫn; tạo sự thu hút mạnh mẽ sinh viên theo học các lĩnh vực về công nghệ kỹ thuật cao, những ngành nghề mới xuất hiện theo nhu cầu việc làm trong khu vực và trên thế giới.
Trong giai đoạn 2021-2025, một số cơ sở GDNN đã cải thiện vị trí trong các bảng xếp hạng giáo dục khu vực và quốc tế, phản ánh sự tiến bộ về chất lượng đào tạo, nghiên cứu và quản trị; tạo động lực đổi mới, nâng cao chuẩn mực và trách nhiệm giải trình của các cơ sở GDNN.
Giáo dục STEM là thành tựu quan trọng và mang tính nền tảng trong đổi mới giáo dục
Trong nhiệm kỳ 2021–2025, giáo dục STEM có thể được xem là một thành tựu quan trọng mang tính định hướng và nền tảng của giáo dục Việt Nam trong quá trình đổi mới nội dung và phương thức giáo dục. Việc đưa STEM vào chương trình GDPT mới thể hiện bước chuyển từ giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang giáo dục phát triển phẩm chất và năng lực người học, gắn học tập với thực tiễn khoa học, công nghệ và đời sống. Thông qua các hoạt động học tập tích hợp, thực hành và trải nghiệm, giáo dục STEM đã góp phần khơi dậy tư duy khoa học, năng lực giải quyết vấn đề và khả năng sáng tạo của học sinh.
Trong giai đoạn 2021-2025, mặc dù việc triển khai còn chưa đồng đều giữa các vùng, miền và điều kiện bảo đảm còn khác nhau, giáo dục STEM đã tạo ra những chuyển biến tích cực trong nhận thức và thực hành sư phạm, đồng thời đặt nền móng quan trọng cho việc chuẩn bị nguồn nhân lực thích ứng với yêu cầu của nền kinh tế tri thức và quá trình chuyển đổi số trong giai đoạn tiếp theo sau Đại hội Đảng XIV.
Kiên cố hóa trường học, phát triển mạnh mẽ y tế trường học và phong trào xây dựng xã hội học tập:
Trong giai đoạn 2021–2025, kiên cố hóa trường học tiếp tục là một thành tựu tiêu biểu của ngành giáo dục Việt Nam, thể hiện rõ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với việc bảo đảm điều kiện học tập an toàn, bền vững cho người học.

GS Sỹ cùng đoàn công tác Hội đồng Quốc gia Giáo dục & PTNL thực hiện nhiệm vụ khảo sát kiên cố hóa trường học tại
các tỉnh miền núi phía Bắc. Ảnh: NVCC
Công tác đầu tư xây dựng, cải tạo và nâng cấp cơ sở vật chất trường học đã được thực hiện quyết liệt và đẩy mạnh, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và khu vực thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai.
Tỷ lệ phòng học kiên cố và bán kiên cố tiếp tục tăng mạnh trong giai đoạn 2021-2025, từ giáo dục mầm non đến giáo dục phổ thông; nhiều phòng học tạm, phòng học xuống cấp được thay thế, góp phần cải thiện rõ rệt môi trường sư phạm.
Kiên cố hóa trường học không chỉ nâng cao chất lượng dạy và học, mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới, chuyển đổi số, tổ chức bán trú và bảo đảm an toàn trường học. Đây là thành tựu có ý nghĩa xã hội sâu sắc, góp phần thu hẹp khoảng cách giáo dục giữa các vùng, miền và củng cố nền tảng phát triển giáo dục bền vững trong giai đoạn tiếp theo.
Trong nhiệm kỳ 2021-2025, cùng với việc đầu tư về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, đổi mới quản lý trong giáo dục, hệ thống y tế trường học đã được quan tâm đầu tư và phát triển, bảo đảm 100% cơ sở giáo dục các cấp có mạng lưới y tế trường học, với gần 70% nhân viên y tế trường học chuyên trách là cán bộ chuyên y tế chuyên ngành theo đúng quy định Luật Khám bệnh, chữa bệnh. Công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu, phòng chống dịch bệnh, bảo đảm an toàn trường học ngày càng được chú trọng; sự phối hợp giữa ngành giáo dục và ngành y tế trong quản lý sức khỏe học sinh, xây dựng môi trường học đường an toàn, lành mạnh được tăng cường.

GS Sỹ cùng đoàn công tác Hội đồng Quốc gia Giáo dục & PTNL thực hiện nhiệm vụ khảo sát y tế trường học tại
vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. Ảnh: NVCC
Đây là một trong những thành tựu quan trọng của ngành giáo dục và y tế nước nhà trong nhiệm kỳ Đại hội Đảng XIII, tạo tiền đề cho việc thực hiện thắng lợi các Chỉ thị, Nghị quyết trung ương giai đoạn 2026-2030 – tầm nhìn đến năm 2045, đặc biệt là Nghị quyết 72-NQ/TW vừa được ban hành cuối năm 2025 (ngày 9/9/2025). Đây là điều kiện quan trọng để bảo đảm chất lượng học tập và sự phát triển toàn diện của người học trong bối cảnh mới; thực hiện chăm sóc sức khỏe ban đầu cho trẻ em ngay từ giai đoạn mầm non – tiểu học, vì “một nước Việt Nam khỏe mạnh”.
Bên cạnh đó, phong trào xây dựng xã hội học tập tiếp tục được đẩy mạnh và lan tỏa sâu rộng cũng là điểm son của giáo dục Việt Nam. Giáo dục đã ngày càng vượt ra khỏi phạm vi nhà trường, gắn với học tập suốt đời, học tập linh hoạt và học tập theo nhu cầu của từng cá nhân.
Trong nhiệm kỳ 2021-2025, các trung tâm học tập cộng đồng, cơ sở giáo dục thường xuyên tại các vùng miền đã phát huy vai trò quan trọng trong việc nâng cao dân trí, bồi dưỡng kỹ năng, cập nhật tri thức cho người lao động, qua đó góp phần nâng cao khả năng thích ứng của xã hội trước những biến đổi nhanh chóng của nền kinh tế và thị trường lao động.
Khả năng thích ứng mạnh mẽ của ngành giáo dục với mô hình chính quyền hai cấp – thành tựu nổi bật cuối nhiệm kỳ 2021-2025
Trong giai đoạn 2021-2025, đặc biệt nhất là kể từ tháng 09/2025, quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền hai cấp đặt ra yêu cầu mới đối với công tác quản lý nhà nước nói chung và quản lý giáo dục nói riêng.
Mặc dù việc thực hiện diễn ra trong trong thời gian rất ngắn, ngành giáo dục đã cho thấy khả năng thích ứng rất tốt với mô hình quản lý mới, hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về giáo dục đã được triển hình đồng bộ và ổn định, có tính thông suốt cao và được vận hành trên cơ sở các quy định pháp luật thống nhất từ trung ương đến cơ sở.
Trong thời gian triển khai mô hình chính quyền hai cấp vừa qua, vai trò của lãnh đạo ngành giáo dục đã thể hiện rất nổi bật trong việc hoạch định chính sách, định hướng sắp xếp các cơ sở giáo dục quốc dân, hướng dẫn triển khai sớm và đồng bộ các chuẩn mực, tiêu chuẩn chất lượng và kiểm định trong giai đoạn 2026-2030.
Toàn ngành giáo dục đã thực hiện chủ trương, định hướng mạnh mẽ và quyết liệt trong việc thực hiện quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình trong việc tổ chức thực hiện và phát triển các hoạt động giáo dục công lập và ngoài công lập, tăng cường huy động các nguồn lực xã hội đầu tư cho giáo dục, bảo đảm các điều kiện dạy và học hiện đại và tiên tiến.
Thành tựu này thể hiện sự đổi mới mạnh mẽ trong tư duy lãnh đạo và quản lý của hệ thống giáo dục nước nhà, chuyển từ quản lý hành chính sang quản trị giáo dục dựa trên chất lượng, hiệu quả và trách nhiệm giải trình.
Việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục ở cơ sở đã góp phần bảo đảm sự vận hành thông suốt của hệ thống giáo dục trong bối cảnh mô hình chính quyền mới – chính quyền hai cấp của Việt Nam với 34 tỉnh thành hiện
———————————————————-
Tác giả: (Nguồn: Nhà báo & Công luận)




















