Những thành tựu vẻ vang của ngành Y tế Việt Nam trong nhiệm kỳ Đại hội XIII (2021 – 2025)
20/01/2026 36 lượt xemGS.TSKH.BS Dương Quý Sỹ, Chủ tịch Hội Y học Giấc ngủ Việt Nam
(CLO) Trên nền tảng đó, ngành y tế Việt Nam có đủ điều kiện và động lực để tiếp tục vươn lên, hội nhập sâu rộng, hướng tới mục tiêu xây dựng một hệ thống y tế công bằng, hiệu quả, hiện đại và nhân văn, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ mới, xây dựng “Y tế học thuật – Y tế nhân văn – Y tế hiện đại”, vì một “Nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam khỏe mạnh”
Thực tiễn nhiệm kỳ Đại hội XIII cho thấy, y tế không chỉ là một lĩnh vực chuyên môn thuần túy, mà đã và đang trở thành trụ cột quan trọng của an sinh xã hội, ổn định chính trị và phát triển kinh tế – xã hội, gắn chặt với năng lực quản trị quốc gia và sức mạnh tổng hợp của đất nước ta trong bối cảnh mới.

Tổng Bí thư Tô Lâm và GS Dương Quý Sỹ tại Hội nghị quán triệt, triển khai các Nghị quyết Trung ương. Ảnh: NVCC
Chiến thắng đại dịch COVID-19 là thành tựu vẻ vang của ngành y tế
Trong nhiệm kỳ Đại hội XIII (2021–2025), công tác phòng, chống đại dịch COVID-19 đã trở thành dấu ấn nổi bật và có ý nghĩa lịch sử của ngành y tế Việt Nam, thể hiện rõ năng lực chỉ đạo, điều hành, tinh thần đoàn kết và bản lĩnh của cả hệ thống chính trị trong bảo vệ sức khỏe nhân dân.
Trước một thách thức y tế toàn cầu chưa từng có tiền lệ, ngành y tế đã phát huy vai trò nòng cốt, phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương, huy động sự vào cuộc đồng bộ của toàn xã hội với tinh thần chung sức, đồng lòng, quyết tâm ngăn chặn và đẩy lùi dịch bệnh.
Sự chỉ đạo thống nhất, xuyên suốt từ Trung ương đến cơ sở đã tạo nên sức mạnh tổng hợp, bảo đảm sự chủ động, linh hoạt và hiệu quả trong ứng phó với diễn biến phức tạp của dịch.
Đặc biệt, sự chỉ đạo quyết liệt, trách nhiệm và kịp thời của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, cùng với vai trò điều hành trực tiếp, chuyên môn sâu sát của lãnh đạo ngành y tế và chính quyền các cấp, đã tạo nền tảng quan trọng cho việc triển khai các giải pháp phòng, chống dịch một cách bài bản và phù hợp thực tiễn.
Ngay từ những giai đoạn đầu, Việt Nam đã chủ động ngăn chặn dịch sớm, thực hiện truy vết, cách ly kịp thời, khoanh vùng và kiểm soát ổ dịch, hạn chế lây lan trong cộng đồng.
Song song với các biện pháp y tế dự phòng, công tác điều trị chuyên khoa và chuyên sâu được đặc biệt chú trọng, với việc huy động tối đa năng lực của hệ thống bệnh viện các tuyến và sự hỗ trợ chuyên môn trực tiếp từ tuyến trung ương cho các địa phương có dịch.
Trong điều trị bệnh nhân COVID-19 nặng và nguy kịch, ngành y tế đã mạnh dạn áp dụng các phương thức điều trị mới, tiên tiến, làm chủ nhiều kỹ thuật chuyên sâu như lọc máu thay huyết tương, lọc máu hấp phụ, kỹ thuật ECMO, hồi sức tích cực và chăm sóc toàn diện.
Những tiến bộ này đã góp phần quan trọng vào việc giảm tỷ lệ tử vong, nâng cao chất lượng điều trị và khẳng định năng lực chuyên môn của y tế Việt Nam trong bối cảnh khủng hoảng y tế toàn cầu.
Thành công trong phòng, chống dịch không thể tách rời sự hy sinh, nhiệt huyết và tinh thần trách nhiệm cao của đội ngũ cán bộ y tế ở tuyến đầu, tuyến cơ sở và tuyến điều trị.

Chiến dịch tiêm chủng quy mô lớn trong thời gian ngắn, đạt tỷ lệ bao phủ cao trên phạm vi toàn quốc. Ảnh: NB&CL
Một yếu tố quyết định khác đóng góp rất quan trọng trong chiến thắng đại dịch COVID-19 là chiến lược vắc-xin thần tốc, đúng đắn và hiệu quả, với việc tổ chức chiến dịch tiêm chủng quy mô lớn trong thời gian ngắn, đạt tỷ lệ bao phủ cao trên phạm vi toàn quốc.
Nhờ đó, Việt Nam đã từng bước khống chế dịch bệnh, giảm rõ rệt tỷ lệ mắc và tử vong do COVID-19, sớm chuyển sang trạng thái thích ứng an toàn, linh hoạt và phục hồi các hoạt động kinh tế – xã hội
Phát triểnmạnh mẽ hệ thống y tế và bảo đảm tốt chăm sóc sức khỏe toàn dân
Trong nhiệm kỳ 2021–2025, hệ thống y tế các cấp của Việt Nam tiếp tục được củng cố và phát triển cả về quy mô, độ bao phủ và chất lượng, tạo nền tảng quan trọng cho việc chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân.
Đến cuối nhiệm kỳ, cả nước có hơn 18.000 cơ sở y tế, bao gồm hệ thống y tế dự phòng, y tế cơ sở, bệnh viện công lập và ngoài công lập, cùng mạng lưới cơ sở hành nghề y, dược tư nhân ngày càng phát triển.
Mạng lưới y tế cơ sở với hơn 10.000 trạm y tế xã, phường, thị trấn tiếp tục được củng cố, phát triển đồng bộ theo mô hình chính quyền hai cấp, từng bước khẳng định vai trò là tuyến đầu trong chăm sóc sức khỏe ban đầu, phòng bệnh, quản lý bệnh không lây nhiễm và y tế dự phòng.

Mạng lưới y tế cơ sở với hơn 10.000 trạm y tế xã, phường, thị trấn tiếp tục được củng cố. Ảnh: NB&CL
Cùng với mở rộng mạng lưới, các chỉ số sức khỏe cộng đồng cơ bản tiếp tục được cải thiện. Công tác tiêm chủng mở rộng cho trẻ em được duy trì ổn định, với tỷ lệ bao phủ các vắc-xin cơ bản thường xuyên đạt trên 95%, góp phần kiểm soát hiệu quả nhiều bệnh truyền nhiễm nguy hiểm và bảo vệ sức khỏe thế hệ tương lai.
Các chương trình chăm sóc sức khỏe bà mẹ – trẻ em và phòng, chống suy dinh dưỡng tiếp tục được triển khai đồng bộ; tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi tiếp tục giảm; phản ánh mạnh mẽ những nỗ lực bền bỉ của hệ thống y tế trong nâng cao thể lực, tầm vóc người Việt Nam.
Trong lĩnh vực bệnh không lây nhiễm, việc tăng cường quản lý, theo dõi và điều trị tại tuyến y tế cơ sở, kết hợp với truyền thông thay đổi hành vi, đã góp phần kiềm chế xu hướng gia tăng tử vong sớm do các bệnh tim mạch, đái tháo đường và một số bệnh mạn tính phổ biến.
Mặc dù còn nhiều thách thức, song chất lượng sống của người bệnh mạn tính từng bước được cải thiện, phản ánh hiệu quả của định hướng lấy y tế cơ sở làm nền tảng. Đội ngũ cán bộ y tế tiếp tục được phát triển về số lượng và từng bước nâng cao về chất lượng.
Đến cuối nhiệm kỳ, số bác sĩ đạt khoảng 10–11 bác sĩ / 10.000 dân, số điều dưỡng đạt khoảng 14–15 điều dưỡng / 10.000 dân, phản ánh nỗ lực lớn trong đào tạo và bổ sung nguồn nhân lực y tế một cách chủ động và kịp thời.
Mặc dù phân bố nhân lực còn chưa đồng đều giữa các vùng, miền, song đội ngũ cán bộ y tế đã đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong điều kiện khối lượng công việc ngày càng lớn, áp lực công việc ngày càng cao và yêu cầu chuyên môn ngày càng chuyên sâu hơn.
Trong lĩnh vực bảo đảm an sinh y tế, bảo hiểm y tế tiếp tục được mở rộng với tỷ lệ bao phủ đạt trên 92–93% dân số, tiệm cận mục tiêu bao phủ toàn dân.

Chương trình sàng lọc miễn phí tại trạm y tế xã, phường sẽ giúp phát hiện sớm các bệnh không lây nhiễm, tư vấn sức khỏe sinh sản… Ảnh: NB&CL
Quy mô và mức chi trả của quỹ bảo hiểm y tế ngày càng tăng, góp phần giảm đáng kể gánh nặng chi phí khám, chữa bệnh cho người dân, đặc biệt là các nhóm yếu thế.
Các chính sách y tế đối với người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, trẻ em, người cao tuổi được triển khai tương đối đồng bộ, thể hiện rõ tính nhân văn và công bằng xã hội.
Đáng chú ý, năng lực ứng phó của hệ thống y tế trước thiên tai, dịch bệnh và các tình huống y tế khẩn cấp ngày càng được nâng cao. Việc chủ động xây dựng phương án, huy động lực lượng, bảo đảm thuốc men, trang thiết bị và tổ chức cấp cứu, điều trị kịp thời đã góp phần hạn chế thấp nhất thiệt hại về sức khỏe và tính mạng của người dân.
Những kết quả đó cho thấy hệ thống y tế Việt Nam không chỉ lớn mạnh về quy mô, mà còn từng bước được củng cố về năng lực, hiệu quả và tính bền vững, xứng đáng là trụ cột quan trọng của an sinh xã hội và phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Phát triển mạng lưới y tế chuyên sâu ngang tầm khu vực và hội nhậpquốc tế sâu rộng
Một thành tựu quan trọng trong nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng ta về y tế là sự phát triển của mạng lưới y tế chuyên sâu, từng bước tiệm cận trình độ khu vực và quốc tế. Nhiều bệnh viện tuyến trung ương và tuyến tỉnh đã làm chủ các kỹ thuật y học hiện đại, công nghệ cao trong chẩn đoán, điều trị và can thiệp, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế và giảm dần tình trạng người bệnh ra nước ngoài chữa trị.
Đặc biệt, lĩnh vực ghép tạng đạt được những bước tiến vượt bậc, với số ca ghép tim, gan, thận, phổi ngày càng tăng, kỹ thuật ngày càng hoàn thiện, tỷ lệ thành công và chất lượng sống sau ghép được nâng cao. Việt Nam đã hình thành các trung tâm ghép tạng có uy tín, từng bước khẳng định vị thế trong khu vực.
Bên cạnh đó, các lĩnh vực y học chuyên sâu mới như y học giấc ngủ, tim mạch can thiệp, ung bướu, hồi sức – cấp cứu, chẩn đoán hình ảnh, y học cá thể hóa từng bước được quan tâm phát triển.
Việc đưa y học giấc ngủ, y học gia đình, chăm sóc người cao tuổi vào thực hành lâm sàng không chỉ góp phần nâng cao chất lượng điều trị các bệnh mạn tính, mà còn phản ánh xu hướng tiếp cận y học hiện đại, toàn diện, lấy chất lượng sống của người bệnh làm trung tâm; thể hiện mạnh mẽ việc quán triệt và thực hiện theo quan điểm chỉ đạo của lãnh đạo Đảng trong xây dựng một nền “Y tế học thuật – Y tế nhân văn – Y tế hiện đại”.

Thiết bị y tế hiện đại, sản phẩm số, mô hình 3D. Ảnh: NB&CL
Song hành với sự phát triển về chuyên môn kỹ thuật, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực y tế tiếp tục là một trụ cột quan trọng góp phần nâng cao vị thế và năng lực của y tế Việt Nam trong nhiệm kỳ 2021–2025.
Hệ thống y tế Việt Nam đã chủ động mở rộng và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác với nhiều cơ sở y tế, trung tâm nghiên cứu và bệnh viện hàng đầu của các quốc gia có nền y học phát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Pháp, Đức, Hàn Quốc, Úc và các nước châu Âu.
Thông qua các chương trình hợp tác song phương và đa phương, nhiều kỹ thuật y học hiện đại, công nghệ cao trong chẩn đoán, điều trị, ghép tạng, hồi sức – cấp cứu, tim mạch, ung bướu và chẩn đoán hình ảnh đã được chuyển giao, làm chủ và ứng dụng hiệu quả tại Việt Nam. Việc tiếp nhận, chuyển giao công nghệ không chỉ dừng ở kỹ thuật, mà còn bao gồm đào tạo nhân lực, quản trị bệnh viện và chuẩn hóa quy trình chuyên môn theo thông lệ quốc tế.
Đáng chú ý, đội ngũ chuyên gia y tế Việt Nam ngày càng khẳng định vị thế trong cộng đồng y học khu vực và quốc tế. Nhiều chuyên gia y tế, bác sĩ Việt Nam đã đảm nhiệm các vị trí lãnh đạo, chủ chốt trong các tổ chức, hiệp hội y học chuyên ngành của khu vực ASEAN và châu Á, tham gia xây dựng hướng dẫn chuyên môn, tiêu chuẩn kỹ thuật và chiến lược phát triển y tế.
Điều này không chỉ phản ánh năng lực chuyên môn và uy tín khoa học của đội ngũ y tế Việt Nam, mà còn cho thấy sự chuyển biến từ vai trò “tiếp nhận” sang vai trò tham gia “kiến tạo và dẫn dắt” trong một số lĩnh vực y học chuyên sâu.
Bên cạnh việc tiếp thu tri thức y học tiên tiến, Việt Nam cũng từng bước tham gia chuyển giao kỹ thuật và hỗ trợ chuyên môn cho các quốc gia có hệ thống y tế chưa phát triển, nhất là trong khu vực ASEAN và một số nước đang phát triển.
Các chương trình đào tạo, tư vấn kỹ thuật, hỗ trợ phòng, chống dịch bệnh, cấp cứu thảm họa và chăm sóc sức khỏe ban đầu được triển khai hiệu quả, thể hiện tinh thần trách nhiệm quốc tế, nhân văn và sự trưởng thành của y tế Việt Nam trong hội nhập khu vực và toàn cầu.
Trong nhiệm kỳ 2021-2025, ngành y tế Việt Nam đã tổ chức thành công nhiều hội nghị khoa học y học quốc tế và khu vực ở các lĩnh vực chuyên sâu như ghép tạng, tim mạch, ung bướu, hồi sức – cấp cứu, y học giấc ngủ và y học chính xác.
Các hội nghị không chỉ là diễn đàn trao đổi học thuật, cập nhật tri thức mới, mà còn là cơ hội để kết nối hợp tác nghiên cứu, đào tạo và chuyển giao công nghệ, đồng thời góp phần nâng cao hình ảnh, uy tín của y tế Việt Nam trên trường quốc tế.

GS Dương Quý Sỹ cùng các đồng nghiệp tổ chức Hội nghị khoa học thường niên Hội Y học Giấc ngủ Việt Nam. Ảnh: NVCC
Chuyển đổi số bền vững vàứng dụng mạnh mẽ thành tựu khoa học – công nghệ vào hệ thống y tế
Trong nhiệm kỳ 2021–2025, chuyển đổi số và ứng dụng khoa học – công nghệ trong y tế đã trở thành một trong những trụ cột quan trọng thúc đẩy đổi mới phương thức quản lý, tổ chức và cung ứng dịch vụ y tế.
Quá trình này được đẩy mạnh trên phạm vi toàn ngành, đặc biệt trong giai đoạn phòng, chống đại dịch COVID-19 và phục hồi sau dịch, góp phần nâng cao năng lực điều hành, tính minh bạch và hiệu quả hoạt động của hệ thống y tế.

Triển khai hệ thống Robot Cori trong phẫu thuật thay khớp gối toàn phần đầu tiên tại Việt Nam. Ảnh: NB&CL
Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý khám, chữa bệnh, thanh toán bảo hiểm y tế, quản lý tiêm chủng và giám sát dịch tễ đã giúp tăng cường khả năng kết nối, chia sẻ dữ liệu và hỗ trợ ra quyết định kịp thời, chính xác.
Một bước tiến quan trọng là việc từng bước xây dựng và triển khai hồ sơ sức khỏe điện tử, hướng tới quản lý sức khỏe người dân xuyên suốt vòng đời.
Cùng với đó, các mô hình khám, chữa bệnh từ xa (telemedicine) được mở rộng, góp phần thu hẹp khoảng cách tiếp cận dịch vụ y tế giữa các vùng, miền, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa và hải đảo.
Trong bối cảnh dịch bệnh và thiên tai, các nền tảng số đã phát huy hiệu quả rõ nét, hỗ trợ hội chẩn chuyên môn, đào tạo từ xa và điều phối nguồn lực y tế. Đây là những nền tảng quan trọng để xây dựng hệ thống y tế hiện đại, lấy người dân làm trung tâm, phù hợp với xu thế phát triển của y học thế giới.
Sự ra đời của Nghị quyết 72-NQ/TW với các giải pháp đột phá và hoàn thiện mạnh mẽ thể chế y tế
Trong nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng ta, đặc biệt nhất là sự ra đời của Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị (ngày 09/9/2025) được xem là cột mốc quan trọng, là điểm son sáng ngời mang tính định hướng chiến lược đối với phát triển ngành y tế trong giai đoạn mới.
Nghị quyết 72-NQ/TW đã tiếp tục khẳng định việc chăm lo, phát triển đội ngũ cán bộ y tế – lực lượng nòng cốt quyết định chất lượng và hiệu quả của hệ thống y tế, là trách nhiệm của Đảng và Nhà nước.
Bên cạnh đó, Luật Phòng bệnh được xây dựng và Quốc hội thông qua vào cuối năm 2025 đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng để chuyển mạnh từ tư duy “chữa bệnh” sang “chủ động phòng bệnh”, tăng cường quản lý nguy cơ, sàng lọc và can thiệp sớm, phù hợp với tinh thần và mục tiêu xuyên suốt của Nghị quyết 72-NQ/TW.

Tăng cường quản lý nguy cơ, sàng lọc và can thiệp sớm. Ảnh: NB&CL
Đặc biệt, sự ra đời của Nghị quyết 72-NQ/TW cùng với việc hoàn thiện các đạo luật quan trọng về y tế đã tạo hành lang chính trị – pháp lý vững chắc cho đổi mới và phát triển ngành trong giai đoạn mới.
Những kết quả đạt được không chỉ góp phần bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, mà còn củng cố niềm tin xã hội, khẳng định vai trò trụ cột của y tế trong an sinh xã hội, ổn định chính trị và phát triển bền vững đất nước.
—————————————————
Tác giả: (Nguồn: Nhà báo & Công luận)






















